BÁO CÁO GÓP Ý ĐỐI VỚI DỰ THẢO LUẬT ĐÔ THỊ ĐẶC BIỆT (LẦN 5, NGÀY 24/05/2026)

Người góp ý: Luậtsư Trần Anh Đức, ủy viên Ban chủ nhiệm thuộc Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh

I. TỔNG QUAN

Dự thảo Luật Đô thị đặc biệt (Lần 5) đã tạo khung pháp lý khá toàn diện cho việc phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, bao gồm các cơ chế đặc thù về tài chính, đầu tư, quản lý đô thị và phát triển kinh tế. Tuy nhiên, qua rà soát, chúng tôi nhận thấy một số điểm nghẽn pháp lý cần được bổ sung, làm rõ hoặc quy định chi tiết hơn nhằm huyđộng được các nguồn lực khác để phát triển thành phố. Báo cáo này tập trung vào10 nhóm vấn đề chính.

TÓM TẮT:

·       Huy động vốn qua VIFC-HCMC: Dự thảo cần khơi thông điểm nghẽn chuyển vốn từ Trung tâm tài chính quốc tế Việt Nam (VIFC) vào Việt Nam vì dòng vốn huy động vào VIFC bị coi là vốn nước ngoài khi đầu tư vào nội địa.

·       Bankability cho dự án PPP: Dự thảo cần cho phép TP.HCM áp dụng hợp đồng PPP theo luật nước ngoài, giải quyết tranh chấp bằng trọng tài quốc tế, và cho phép UBND Thành phố cấp bảo lãnh/cam kết hỗ trợ (thông qua 1 quỹ đầu tư) nhằm đảm bảo tính khả thi tín dụng theo thông lệ quốc tế.

·       Cơ chế để tư nhân đầu tư công viên ven sông: Khai thác tiềm năng ven sông phục vụ sức khỏe cộng đồng. Cần cho phép nhà đầu tư tư nhân xây dựng công viên cây xanh ven sông phục vụ cộng đồng và được quyền khai thác dịch vụ thương mại ven sông (nhà hàng, bến du thuyền) trong một thời gian 10-20 năm rồi bàn giao cho Thành phố.

·       Kênh đối thoại, gỡ vướng cho nhà đầu tư: Cần luật hóa trách nhiệm của UBND trong việc thiết lập kênh đối thoại thường xuyên với các nhà đầu tư, lập Tổ công tác gỡ vướng cho các dự án đầu tư.

·       Tư vấn pháp lý độc lập và miễn trừ trách nhiệm: Cần mở rộng quyền thuê tư vấn pháp lý độc lập cho cơ quan nhà nước và bổ sung cơ chế miễn trừ trách nhiệm hành chính, hình sự cho công chức khi thực hiện theo ý kiến chuyên gia.

·       Cải thiện việc công nhận phán quyết trọng tài quốc tế – Đảm bảo thi hành án nhanh gọn, hiệu quả: Cần tạo niềm tin cho các nhà đầu tư thông qua việc cải thiện công nhận phán quyết trọng tài quốc tê. Bổ sung cơ chế đặc thù tăng cường thẩm quyền và năng lực cho cơ quan thi hành án dân sự trên địa bàn Thành phố nhằm đảm bảo việc thi hành bản án, quyết định được nhanh gọn, hiệu quả.

·       Đào tạo về công nghệ cao và trí tuệ nhân tạo: Cần bổ sung cơ chế đặc thù cho phép Thành phố chủ động xây dựng và triển khai các trung tâm và chương trình đào tạo chuyên sâu về công nghệ cao, trí tuệ nhân tạo (AI), bán dẫn và công nghệ số nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế số và thu hút đầu tư trong lĩnh vực công nghệ.

·       Xóa bỏ hạn chế đối với nhà đầu tư nước ngoài trong một số lĩnh vực cần ưu tiên thu hút vốn đầu tư nước ngoài: Cần xác định một số lĩnh vực, dự án cần ưu tiên thu hút vốn đầu tư nước ngoài và xóa bỏ các hạn chế, phân biệt đối xử giữa nhà đầu tư trong nước và nước ngoài. Ví dụ, trong các lĩnh vực giáo dục, y tế.

·       Tập trung nguồn lực từ doanh nghiệp nhà nước (DNNN) thông qua Quỹ đầu tư phát triển tập trung: Cần bổ sung cơ chế cho phép UBND Thành phố thành lập Quỹ đầu tư phát triển tập trung, yêu cầu DNNN chuyển lợi nhuận và quỹ đầu tư phát triển về Quỹ tập trung nhằm tránh phân tán nguồn lực.

·       Nghĩa vụ bổ sung diện tích cây xanh khi phát triển bất động sản tại khu trung tâm: Cần bổ sung quy định buộc nhà đầu tư cam kết bổ sung diện tích cây xanh vượt mức tối thiểu theo quy chuẩn khi phát triển dự án bất động sản ở khu trung tâm Thành phố, nhằm cải thiện tình trạng thiếu hụt cây xanh công cộng trầm trọng

II. NỘI DUNG GÓP Ý CHI TIẾT

1. Huy động vốn thông qua Trung tâm Tài chính Quốc tế (VIFC-HCMC) – Khơi thông dòng vốn từ VIFC vào nền kinh tế nội địa

1.1. Thực trạng và vướng mắc

Điều 22 Dự thảo quy định về VIFC-HCMC và đã ghi nhận một số cơ chế huy động vốn đáng chú ý, bao gồm: việc phát hành trái phiếu chính quyền địa phương, trái phiếu dự án, trái phiếu công trình, trái phiếu đô thị, trái phiếu xanh, các loại hình quỹ đầu tư và các sản phẩm tài chính khác để huy động vốn từ VIFC-HCMC theo chuẩn mực quốc tế (Điều 22.2.e). Ngoài ra, quỹ đầu tư, công ty đầu tư thành lập tại VIFC-HCMC được huy động vốn không hạn chế từ nhà đầu tư ngoài nước và đầu tư trực tiếp hoặc gián tiếp vào các dự án, doanh nghiệp, tài sản tại Việt Nam (Điều 22.5).

Tuy nhiên, vướng mắc lớn nhất hiện nay là khi dòng vốn được huy động tại VIFC chuyển vào nền kinh tế nội địa (tức ra khỏi ranh giới VIFC-HCMC), dòng vốn đó bị coi là dòng vốn nước ngoài và phải tuân thủ toàn bộ các quy định hiện hành về quản lý ngoại hối, đầu tư nước ngoài, hạn chế tỷ lệ sở hữu nước ngoài, thủ tục chấp thuận đầu tư... Điều này tạo ra một nghịch lý: nhà đầu tư bỏ vốn vào VIFC nhưng dòng vốn đó không thể đưa vào Việt Nam một cách thuận lợi, khiến VIFC mất đi vai trò cầu nối huy động vốn phục vụ phát triển kinh tế TP.HCM.

1.2. Thông lệ quốc tế và kinh nghiệm nước ngoài

Các trung tâm tài chính quốc tế hàng đầu trên thế giới đều xây dựng cơ chế pháp lý đặc thù cho phép dòng vốn huy động tại trung tâm được chuyển vào nền kinh tế nội địa một cách thuận lợi:

·       Dubai International Financial Centre (DIFC): UAE cho phép các quỹ đầu tư thành lập tại DIFC được đầu tư trực tiếp vào các dự án trên lãnh thổ UAE mà không bị coi là "vốn nước ngoài", đồng thời áp dụng hệ thống pháp luật riêng (common law) trong phạm vi DIFC và cơ chế chuyển đổi ngoại hối tự do.

·       Singapore: Quỹ đầu tư được cấp phép bởi Monetary Authority of Singapore (MAS) được tự do chuyển vốn vào nền kinh tế nội địa mà không bị hạn chế về tỷ lệ sở hữu nước ngoài trong hầu hết các lĩnh vực, trừ một số ngành nhạy cảm.

·       Labuan International Business and Financial Centre (Malaysia): Cho phép các thực thể Labuan đầu tư vào Malaysia với quy chế ưu đãi về thuế và không bị áp dụng các hạn chế về quản lý ngoại hối thông thường.

·       Shanghai Free Trade Zone (Trung Quốc): Trung Quốc thí điểm cơ chế "Danh mục hạn chế" (Negative List) trong Khu thương mại tự do Thượng Hải, cho phép vốn nước ngoài đầu tư tự do vào các lĩnh vực không nằm trong danh mục hạn chế, và áp dụng tài khoản vốn tự do Thương mại (Free Trade Account – FTA) để thuận lợi hóa dòng vốn xuyên biên giới.

·       GIFT City – Gujarat International Finance Tec-City (Ấn Độ): Đây là mô hình có tính tương đồng cao nhất với VIFC-HCMC. GIFT City là trung tâm tài chính quốc tế đầu tiên của Ấn Độ, theo đó: (i) Các quỹ đầu tư thành lập tại GIFT City được huy động vốn từ nhà đầu tư quốc tế bằng ngoại tệ và được đầu tư ngược vào Ấn Độ thông qua kênh Foreign Portfolio Investment (FPI) hoặc Foreign Direct Investment (FDI) với thủ tục đơn giản hóa; (ii) Giao dịch trong GIFT City được thực hiện bằng ngoại tệ tự do chuyển đổi, không bị ràng buộc bởi quy định quản lý ngoại hối (FEMA) thông thường của Ấn Độ. Mô hình GIFT City cho thấy một quốc gia đang phát triển có thể xây dựng trung tâm tài chính quốc tế đồng thời tạo cơ chế pháp lý để dòng vốn huy động tại trung tâm được đầu tư ngược vào nền kinh tế nội địa một cách có kiểm soát nhưng thuận lợi.

Bài học chung từ các mô hình trên là: muốn trung tâm tài chính phát huy vai trò huy động vốn cho nền kinh tế, cần phải tạo ra một "hành lang pháp lý" (legal corridor) giữa trung tâm và nền kinh tế nội địa, trong đó dòng vốn được lưu chuyển theo quy chế đặc thù, không bị ràng buộc bởi các quy định quản lý ngoại hối và đầu tư nước ngoài thông thường.

1.3. Kiến nghị bổ sung

Thứ nhất, cần bổ sung vào Điều 22 một khoản quy định rõ ràng rằng: dòng vốn huy động tại VIFC-HCMC khi được đầu tư vào các dự án, doanh nghiệp, tài sản thuộc Danh mục lĩnh vực, dự án ưu tiên thu hút vốn thông qua VIFC (do HĐND Thành phố ban hành) thì không bị coi là vốn đầu tư nước ngoài hoặc được áp dụng quy chế đầu tư đặc thù, không phải tuân thủ các hạn chế về tỷ lệ sở hữu nước ngoài, thủ tục đầu tư nước ngoài theo pháp luật đầu tư hiện hành.

 

Thứ hai, cần giao HĐND Thành phố ban hành Danh mục lĩnh vực, dự án ưu tiên thu hút vốn thông qua VIFC-HCMC, bao gồm nhưng không giới hạn các lĩnh vực sau:

·       Hạ tầng giao thông đô thị (metro, đường vành đai, cầu, hầm vượt sông);

·       Hạ tầng năng lượng sạch và năng lượng tái tạo;

·       Công viên cây xanh công cộng, không gian công cộng;

·       Hạ tầng kỹ thuật môi trường (thoát nước, xử lý nước thải, xử lý chất thải rắn);

·       Dự án y tế chuyên sâu, giáo dục chất lượng cao;

·       Trung tâm đổi mới sáng tạo, R&D, công nghệ cao;

·       Dự án logistics, cảng biển, khu thương mại tự do;

·       Dự án nhà ở xã hội phục vụ công nhân và người thu nhập thấp.

2. Huy động vốn theo dự án PPP – Đảm bảo tính khả thi tín dụng (bankability)

2.1. Thực trạng và vướng mắc

Dự thảo đã đề cập đến các mô hình hợp tác công tư tại Điều 32. HĐND Thành phố cũng được giao quy định về cơ chế ưu đãi vượt trội trong đảm bảo đầu tư, phương án chia sẻ doanh thu, lợi nhuận và chia sẻ rủi ro.

Tuy nhiên, Dự thảo chưa giải quyết được điểm nghẽn cốt lõi khiến các dự án PPP tại Việt Nam nói chung và TP.HCM nói riêng không thu hút được nhà đầu tư tư nhân và nước ngoài, đó là vấn đề bankability (tính khả thi tín dụng). Cụ thể:

·       Hợp đồng PPP theo pháp luật Việt Nam hiện hành phải tuân theo luật Việt Nam, không cho phép lựa chọn luật áp dụng nước ngoài và cơ chế giải quyết tranh chấp quốc tế;

·       Các ngân hàng quốc tế và tổ chức tài chính quốc tế không thểtài trợ dự án (project finance) cho dự án PPP khi hợp đồng không đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế về phân bổ rủi ro,bảo lãnh dự án, quyền tiếp quảndự án (step-in rights), cơ chế thanh toán khichấm dứthợp đồng (termination payment), luật áp dụng và cơ chế giải quyết tranh chấp;

·       Pháp luật về đầu tư theo phương thức PPP hiện hành thiếu các điều khoản bảo vệ nhà đầu tư theo thông lệ quốc tế, dẫn đến rủi ro pháp lý quá lớn đối với cácnhà đầu tư.

2.2. Thông lệ quốc tế và kinh nghiệm nước ngoài

Vấn đề bankability là yếu tố quyết định sự thành công của các chương trình PPP trên thế giới. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy:

·       Vương quốc Anh (PFI/PF2): Mô hình Private Finance Initiative (PFI) của Anh – một trong những chương trình PPP thành công nhất thế giới – cho phép hợp đồng PPP được điều chỉnh hoàn toàn bởi luật Anh với cơ chế giải quyết tranh chấp linh hoạt (trọng tài hoặc tòa án). Đặc biệt, hợp đồng PFI bao gồm các điều khoản bảo vệ bên cho vay chuẩn hóa như: quyền tiếp quản (step-in rights), cam kết thanh toán khi chấm dứt hợp đồng sớm (termination payment), và cơ chế tham vấn bắt buộc với bên cho vay trước khi chấm dứt hợp đồng.

·       Hàn Quốc: Luật PPP của Hàn Quốc (Act on Public-Private Partnerships in Infrastructure) cho phép Chính phủ cấp bảo lãnh doanh thu tối thiểu (Minimum Revenue Guarantee – MRG) cho các dự án PPP trong giai đoạn đầu vận hành, đồng thời cho phép nhà đầu tư nước ngoài lựa chọn trọng tài quốc tế để giải quyết tranh chấp.

·       Ấn Độ: Mô hình PPP của Ấn Độ sử dụng hợp đồng nhượng quyền (Concession Agreement) chuẩn hóa theo thông lệ quốc tế, bao gồm các điều khoản về stabilization clause (cam kết ổn định chính sách), change in law protection (bảo vệ khi thay đổi pháp luật), và direct agreement giữa cơ quan nhà nước với bên cho vay.

·       Indonesia: Luật PPP sửa đổi năm 2015 (Presidential Regulation No. 38/2015) cho phép sử dụng trọng tài quốc tế và áp dụng luật nước ngoài đối với các hợp đồng PPP có yếu tố quốc tế, đồng thời thành lập Indonesia Infrastructure Guarantee Fund (IIGF) để cấp bảo lãnh cho dự án PPP.

·       Philippines: BOT Law sửa đổi cho phép Chính phủ cấp government undertaking đối với các dự án PPP chiến lược, bảo lãnh nghĩa vụ thanh toán của cơ quan nhà nước trong hợp đồng PPP.

Bài học chung: Các quốc gia thành công trong thu hút vốn tư nhân cho hạ tầng đều có điểm chung là cho phép linh hoạt về luật áp dụng, cơ chế giải quyết tranh chấp quốc tế, bảo lãnh và các điều khoản bảo vệ bên cho vay theo chuẩn quốc tế.

2.3. Kiến nghị bổ sung

Thứ nhất, bổ sung vào Điều 32 hoặc bổ sung một Điều mới cho phép TP.HCM được áp dụng hợp đồng PPP theo luật nước ngoài (ví dụ: luật Anh, luật Singapore) đối với các dự án PPP thuộc Danh mục dự án lớn, quan trọng, cấp bách (theo Điều 3.1) hoặc dự án có vốn đầu tư trên một ngưỡng nhất định (ví dụ: trên 5.000 tỷ đồng). Quy định này nên bao gồm:

·       Cho phép các bên trong hợp đồng PPP được thỏa thuận lựa chọn luật áp dụng là luật nước ngoài đối với các vấn đề thương mại của hợp đồng;

·       Cho phép giải quyết tranh chấp bằng trọng tài quốc tế (ví dụ: ICC, SIAC, LCIA);

·       Cho phép áp dụng các điều khoản bảo vệ bên cho vay theo thông lệ quốc tế, bao gồm: quyền tiếp quảndự án, bảo đảm doanhthu, bảolãnh dự án (thông qua Quỹ đầu tư), cam kết thanh toánkhi hợp đồngdự án bị chấm dứt trước thời hạn (early termination payment).

 

Thứ hai, bổ sung quy định cho phép UBND Thành phố cấp bảo lãnh hoặc cam kết hỗ trợ tài chính đối với dự án PPP trong các trường hợp đặc biệt, bao gồm: bảo lãnh doanh thu tối thiểu (minimum revenue guarantee), bảo lãnh tỷ giá, cam kết cung cấp mặt bằng đúng tiến độ, cam kết không thay đổi chính sách bất lợi (stabilization clause).

3. Cơ chế để tư nhân đầu tư công viên cây xanh ven sông

3.1. Cơ sở pháp lý hiện có trong Dự thảo

Dự thảo đã có một số quy định liên quan tạo tiền đề cho mô hình này:

·       Điều 33.1.e: Danh mục ưu tiên thu hút nhà đầu tư chiến lược bao gồm "Dự án đầu tư độc lập hoặc kết hợp các loại hình công viên cây xanh công cộng, bãi để xe công cộng, hạ tầng năng lượng sạch có quy mô vốn đầu tư từ 2.000 tỷ đồng trở lên";

·       Điều 18.6: Thành phố được quyết định cho thuê đất, cho thuê mặt nước trong hành lang bảo vệ bờ sông, kênh, rạch trên địa bàn để đầu tư xây dựng các công trình dịch vụ du lịch bán kiên cố với thời hạn tối đa không quá 50 năm;

·       Điều 32.3: Mô hình "Đầu tư tư – sử dụng công" cho phép khu vực tư nhân sử dụng vốn để đầu tư xây dựng tài sản phục vụ cung cấp dịch vụ công.

3.2. Thông lệ quốc tế và kinh nghiệm nước ngoài

Nhiều thành phố lớn trên thế giới đã áp dụng thành công mô hình tư nhân đầu tư không gian công cộng kết hợp khai thác thương mại:

·       Seoul (Hàn Quốc) – Dự án Cheonggyecheon Stream: Thành phố Seoul đã huy động vốn tư nhân để cải tạo suối Cheonggyecheon thành công viên đi bộ dọc theo dòng suối dài 10,9 km, trong đó nhà đầu tư được khai thác các dịch vụ thương mại (nhà hàng, café, cửa hàng) dọc hai bên bờ suối trong thời hạn nhất định.

·       London (Anh) – Thames Path và South Bank: Chính quyền London cho phép tư nhân đầu tư cải tạo bờ sông Thames thành đường đi bộ, khu vực sinh hoạt cộng đồng, và được khai thác nhà hàng, quán bar, bến du thuyền dọc bờ sông theo hợp đồng cho thuê dài hạn (thường 25-30 năm).

·       Singapore – Marina Bay và Singapore River: Chính phủ Singapore áp dụng mô hình "Design-Build-Operate" cho các khu vực ven sông, trong đó tư nhân đầu tư cải tạo bờ sông và được khai thác thương mại (nhà hàng, quán bar, bến thuyền du lịch) với hợp đồng 10-30 năm trước khi bàn giao lại cho Nhà nước.

·       Bangkok (Thái Lan) – Chao Phraya Promenade: Thái Lan triển khai dự án đường đi bộ ven sông Chao Phraya với sự tham gia của tư nhân qua mô hình PPP, cho phép nhà đầu tư khai thác bến ca nô, du thuyền và dịch vụ ăn uống ven sông.

·       Melbourne (Úc) – Yarra River Southbank: Chính quyền bang Victoria cho thuê đất ven sông cho tư nhân phát triển đường đi bộ kết hợp khu ẩm thực, giải trí với hợp đồng 15-25 năm, với điều kiện phải dành tối thiểu 60% diện tích cho không gian công cộng miễn phí.

Đặc điểm chung của các mô hình thành công: (i) ngưỡng vốn đầu tư linh hoạt, không quá cao; (ii) cho phép nhà đầu tư khai thác thương mại kết hợp với nghĩa vụ duy trì không gian công cộng; (iii) thời hạn hợp đồng 10-30 năm phù hợp để nhà đầu tư thu hồi vốn; (iv) quy chuẩn rõ ràng về tỷ lệ diện tích phục vụ công cộng/thương mại.

3.3. Vướng mắc

Mặc dù có các quy định trên, việc thu hút tư nhân bỏ vốn xây dựng công viên cây xanh công cộng phục vụ nhu cầu đi bộ, tập thể dục của nhân dân vẫn gặp khó khăn vì: (i) Ngưỡng vốn đầu tư tối thiểu 2.000 tỷ đồng cho nhà đầu tư chiến lược là quá cao đối với các dự án công viên ven sông quy mô vừa và nhỏ; (ii) Chưa có cơ chế rõ ràng cho phép nhà đầu tư khai thác thương mại kết hợp (nhà hàng, quán café, bến ca nô, du thuyền) ngay trong phạm vi công viên công cộng; (iii) Thời hạn khai thác và cơ chế bàn giao chưa được quy định cụ thể cho loại hình dự án này.

3.4 Kiến nghị

Thứ nhất, bổ sung vào Điều 32 một quy định cụ thể về mô hình "Xây dựng – Chuyển giao – Thuê" cho phép nhà đầu tư bỏ vốn xây dựng, cải tạo các bờ sông, kênh rạch thành công viên cây xanh, đường đi bộ công cộng; sau khi dựng xong thì chuyển giao cho Thành phố và được quyền thuê lại công trình đó để khai thác thương mại các dịch vụ phụ trợ (nhà hàng, quán café, bến ca nô, du thuyền, khu vui chơi, sự kiện) trong thời hạn từ 10 đến 30 năm, sau đó bàn giao toàn bộ công trình cho Thành phố.

Thứ hai, hạ ngưỡng vốn đầu tư tối thiểu đối với dự án công viên cây xanh kết hợp khai thác thương mại ven sông xuống mức phù hợp hơn (ví dụ: từ 10 tỷ đồng trở lên) để mở rộng đối tượng nhà đầu tư tham gia, hoặc cho phép HĐND Thành phố quy định ngưỡng vốn riêng cho loại hình dự án này.

Thứ ba, HĐND Thành phố ban hành Danh mục các vị trí bờ sông, kênh rạch đã có sẵn mặt bằng sạch phù hợp để triển khai mô hình trên, kèm theo quy chuẩn kỹ thuật về tỷ lệ diện tích cây xanh/đường đi bộ tối thiểu so với diện tích khai thác thương mại, đảm bảo mục tiêu phục vụ cộng đồng.

4. Kênh đối thoại với nhà đầu tư – Luật hóa trách nhiệm của UBND

4.1. Thực trạng

Dự thảo hiện chưa có quy định nào về cơ chế đối thoại và gỡ vướng pháp lý cho nhà đầu tư. Thực tế cho thấy các quy định pháp luật chồng chéo, thủ tục hành chính phức tạp, và thiếu sự phối hợp giữa các cơ quan nhà nước là nguyên nhân chính khiến nhà đầu tư nản lòng. Nhà đầu tư (đặc biệt là nhà đầu tư nước ngoài) cần một đầu mối chính thức để đối thoại và sẵn sàng hỗ trợ nhà đầu gặp vướng mắc trong triển khai dự án.

4.2. Thông lệ quốc tế và kinh nghiệm nước ngoài

Cơ chế đối thoại với nhà đầu tư và giải quyết vướng mắc pháp lý là thông lệ phổ biến tại các nền kinh tế phát triển:

·       Singapore – Economic Development Board (EDB): Singapore thiết lập hệ thống "one-stop service" với EDB là đầu mối duy nhất giúp nhà đầu tư giải quyết mọi vướng mắc pháp lý, thủ tục hành chính. EDB có quyền triệu tập các bộ, ngành liên quan và cam kết thời hạn phản hồi tối đa 14 ngày.

·       Hàn Quốc – Office of the Foreign Investment Ombudsman: Hàn Quốc thành lập Văn phòng Ombudsman về đầu tư nước ngoài (trực thuộc KOTRA), có nhiệm vụ tiếp nhận khiếu nại, vướng mắc từ nhà đầu tư nước ngoài và phối hợp với các cơ quan nhà nước để giải quyết trong thời hạn cam kết. Ombudsman có quyền yêu cầu các bộ, ngành phải giải trình và đề xuất giải pháp.

·       Nhật Bản – Council for Regulatory Reform: Nhật Bản duy trì Hội đồng Cải cách quy định với sự tham gia của khu vực tư nhân, luật sư và chuyên gia, có nhiệm vụ rà soát các vướng mắc pháp lý cản trở đầu tư và kiến nghị Chính phủ sửa đổi.

·       Dubai – Investor Relations Office (IRO): Dubai thành lập IRO với chức năng duy trì đối thoại thường xuyên với nhà đầu tư (hàng tháng), tiếp nhận và phân loại vướng mắc, phối hợp giải quyết với thời hạn cam kết cụ thể (7-30 ngày tùy mức độ phức tạp).

·       Ba Lan – Business Ombudsman: Ba Lan bổ nhiệm Ombudsman cho doanh nghiệp với quyền can thiệp vào quy trình hành chính khi phát hiện sự chậm trễ hoặc áp dụng pháp luật không thống nhất gây bất lợi cho nhà đầu tư.

Bài học chung: Cần có một cơ quan đầu mối với thẩm quyền thực chất (không chỉ mang tính tham vấn), có thời hạn cam kết rõ ràng, và có sự tham gia của luật sư, chuyên gia độc lập.

4.3. Kiến nghị bổ sung

Thứ nhất, bổ sung một Điều mới (hoặc một khoản trong Điều 37 về Thu hút đầu tư) quy định về Kênh đối thoại và gỡ vướng pháp lý cho nhà đầu tư, với các nội dung cốt lõi:

·       Giao UBND Thành phố trách nhiệm thiết lập và duy trì Kênh đối thoại thường xuyên với nhà đầu tư, bao gồm: tổ chức đối thoại định kỳ (ít nhất mỗi quý một lần), vận hành đường dây nóng và nền tảng trực tuyến tiếp nhận phản ánh vướng mắc;

·       Thành lập Tổ công tác gỡ vướng pháp lý cho nhà đầu tư do Phó Chủ tịch UBND Thành phố đứng đầu, có sự tham gia của đại diện các sở, ban, ngành liên quan;

·       Quy định thời hạn tối đa để UBND Thành phố phải phản hồi và giải quyết các vướng mắc pháp lý do nhà đầu tư nêu (ví dụ: 30 ngày đối với vấn đề thông thường, 60 ngày đối với vấn đề phức tạp cần xin ý kiến cơ quan trung ương);

·       Trường hợp vướng mắc phát sinh từ sự chồng chéo giữa các văn bản pháp luật hoặc chưa có quy định rõ ràng, UBND Thành phố được quyền ban hành hướng dẫn áp dụng tạm thời trong phạm vi thẩm quyền theo Điều 8 của Dự thảo

Thứ hai, bổ sung quy định cho phép UBND Thành phố mời các luật sư, chuyên gia (bao gồm Đoàn Luật sư Thành phố) tham gia tư vấn, hỗ trợ trong quá trình đối thoại và gỡ vướng pháp lý cho doanh nghiệp, với kinh phí được bố trí từ ngân sách Thành phố. Đoàn Luật sư Thành phố sẵn sàng cử luật sư có kinh nghiệm chuyên môn tham gia hỗ trợ Thành phố trong công tác này.

5. Mở rộng phạm vi thuê tổ chức tư vấn cung cấp ý kiến pháp lý độc lập và cơ chế miễn trừ trách nhiệm

5.1. Quy định hiện hành trong Dự thảo

Điều 15.4 Dự thảo hiện cho phép chủ đầu tư, nhà đầu tư được “thuê tổ chức tư vấn, tổ chức thẩm định giá hoặc chuyên gia có năng lực để rà soát, cung cấp ý kiến độc lập” nhưng chỉ giới hạn trong phạm vi xác định giá thiết bị đối với dự án sử dụng vốn đầu tư công, dự án PPP.

Ngoài ra, Điều 44 Dự thảo quy định về loại trừ, miễn trách nhiệm pháp lý cho cán bộ, công chức, viên chức trong trường hợp “không vụ lợi, đã thực hiện đúng quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục trong quá trình thực hiện nhiệm vụ nhưng vẫn xảy ra thiệt hại”, và trường hợp “có động cơ mục đích vì sự phát triển chung của đô thị đặc biệt”.

5.2. Vướng mắc

Phạm vi áp dụng của Điều 15.4 quá hẹp, chỉ giới hạn ở vấn đề giá thiết bị. Trong thực tế, cán bộ, công chức thường gặp các vấn đề pháp lý phức tạp, luật chưa quy định rõ ràng hoặc có nhiều cách hiểu khác nhau trong rất nhiều lĩnh vực khác (đất đai, đầu tư, xây dựng, đấu thầu, quản lý tài sản công...). Tâm lý “sợ sai, sợ trách nhiệm” khiến cán bộ không dám quyết định, gây đình trệ trong giải quyết công việc. Cơ chế miễn trừ trách nhiệm tại Điều 44 tuy đã có nhưng chưa đủ cụ thể để tạo niềm tin cho công chức.

5.3. Thông lệ quốc tế và kinh nghiệm nước ngoài

Việc sử dụng ý kiến tư vấn pháp lý độc lập và cơ chế miễn trừ trách nhiệm cho công chức khi dựa vào ý kiến chuyên gia là thông lệ phổ biến tại nhiều quốc gia:

·       Anh và các nước Common Law: Nguyên tắc “reliance on professional advice” được công nhận rộng rãi – công chức được miễn trách nhiệm cá nhân nếu đã hành động trên cơ sở ý kiến tư vấn pháp lý chuyên nghiệp (legal opinion) từ luật sư có năng lực, với điều kiện đã cung cấp đầy đủ thông tin cho người tư vấn và không có hành vi gian lận.

·       Úc – Legal Services Directions 2017: Chính phủ liên bang Úc quy định bắt buộc các cơ quan nhà nước phải thuê tư vấn pháp lý độc lập đối với các vấn đề pháp lý phức tạp, giao dịch có giá trị lớn, hoặc khi có nhiều cách giải thích pháp luật khác nhau. Chi phí tư vấn được tính vào ngân sách hoạt động thường xuyên.

·       Singapore – Government Instruction Manual: Singapore quy định các cơ quan nhà nước phải xin ý kiến pháp lý từ Attorney-General's Chambers (AGC) hoặc tổ chức luật sư tư nhân được chỉ định đối với các hợp đồng có giá trị trên ngưỡng nhất định hoặc có yếu tố quốc tế. Công chức được miễn trách nhiệm cá nhân khi thực hiện theo ý kiến AGC.

·       Hàn Quốc: Luật về Công vụ (State Public Officials Act) miễn trừ trách nhiệm hình sự và hành chính cho công chức khi quyết định được đưa ra trên cơ sở ý kiến pháp lý chuyên nghiệp, với điều kiện không có yếu tố tham nhũng hoặc cố ý vi phạm.

·       Đức – Verwaltungsverfahrensgesetz (VwVfG): Luật Thủ tục hành chính Đức thừa nhận nguyên tắc "Vertrauensschutz" (bảo vệ niềm tin chính đáng), theo đó công chức không bị truy cứu trách nhiệm nếu đã hành động thiện chí dựa trên ý kiến chuyên gia pháp lý có thẩm quyền.

Bài học chung: Việc thuê tư vấn pháp lý độc lập không chỉ bảo vệ công chức mà còn nâng cao chất lượng quyết định hành chính, giảm rủi ro pháp lý cho Nhà nước và tạo niềm tin cho nhà đầu tư về tính minh bạch, chuyên nghiệp của bộ máy hành chính.

5.4. Kiến nghị bổ sung

Thứ nhất, mở rộng phạm vi Điều 15.4 (hoặc bổ sung một Điều riêng) cho phép tất cả các cơ quan nhà nước thuộc Thành phố (không chỉ chủ đầu tư) được thuê tổ chức tư vấn pháp lý độc lập để cung cấp ý kiến chuyên gia trong các trường hợp:

·       Vấn đề pháp lý phức tạp mà pháp luật chưa quy định rõ ràng;

·       Có nhiều cách hiểu khác nhau giữa các cơ quan nhà nước về cùng một vấn đề pháp lý;

·       Vấn đề liên quan đến áp dụng pháp luật nước ngoài, thông lệ quốc tế trong các giao dịch có yếu tố nước ngoài;

·       Vấn đề có giá trị lớn hoặc có tác động rộng, cần đánh giá rủi ro pháp lý toàn diện.

Thứ hai, bổ sung vào Điều 44 một khoản quy định cụ thể về miễn trừ trách nhiệm của công chức khi thực hiện theo ý kiến chuyên gia độc lập, với nội dung: Cán bộ, công chức, viên chức đã thuê tổ chức tư vấn pháp lý độc lập có năng lực, uy tín và đã thực hiện quyết định trên cơ sở ý kiến chuyên gia độc lập đó thì được miễn trừ trách nhiệm hành chính và hình sự đối với hậu quả phát sinh, trừ trường hợp có bằng chứng cho thấy cán bộ đã cố ý cung cấp thông tin sai lệch cho tổ chức tư vấn hoặc có hành vi vụ lợi.

Thứ ba, chi phí thuê tổ chức tư vấn pháp lý độc lập được tính vào chi phí quản lý dự án (đối với dự án đầu tư) hoặc chi phí hoạt động thường xuyên của cơ quan nhà nước (đối với các vấn đề quản lý nhà nước). HĐND Thành phố quy định định mức, tiêu chuẩn và trình tự, thủ tục lựa chọn tổ chức tư vấn pháp lý độc lập.

Thứ tư, quy định tiêu chuẩn đối với tổ chức tư vấn pháp lý độc lập: phải là tổ chức hành nghề luật sư hoặc tổ chức tư vấn pháp luật có đăng ký hoạt động hợp pháp, có kinh nghiệm tối thiểu trong lĩnh vực liên quan, không có xung đột lợi ích với các bên liên quan.

 

 

6. Cải thiện việc công nhận phán quyết trọng tài quốc tế – Đảm bảo thi hành án nhanh gọn, hiệu quả

6.1. Thực trạng và vướng mắc

Việc thi hành các bản án, quyết định của Trọng tài và Tòa án trên địa bàn TP.HCM hiện nay gặp nhiều khó khăn, ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường đầu tư và niềm tin của nhà đầu tư. Các vướng mắc chính bao gồm: (i) Việc công nhận và thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài tại Việt Nam gặp nhiều khó khăn, trái với thông lệ quốc tế; (ii) Cơ quan thi hành án dân sự thiếu thẩm quyền đủ mạnh để cưỡng chế thi hành, đặc biệt đối với các vụ việc liên quan đến tài sản lớn, doanh nghiệp có nhiều tài sản phân tán hoặc có yếu tố nước ngoài; (iii) Thời gian thi hành án kéo dài do thủ tục xác minh, kê biên, định giá, bán đấu giá tài sản còn phức tạp, nhiều tầng nấc, thiếu cơ chế đẩy nhanh tiến độ; (iv) Sự phối hợp giữa cơ quan thi hành án với các cơ quan đăng ký tài sản, ngân hàng, tổ chức tín dụng còn chưa hiệu quả, dẫn đến tình trạng tẩu tán tài sản; (v) Thiếu công cụ pháp lý để truy tìm, phong tỏa tài sản của người phải thi hành án một cách nhanh chóng.

Đối với nhà đầu tư, đặc biệt là nhà đầu tư nước ngoài, hiệu quả thi hành án là một trong những yếu tố then chốt khi đánh giá môi trường pháp lý. Một hệ thống thi hành án yếu kém làm giảm giá trị thực tế của các phán quyết tòa án và phán quyết trọng tài, từ đó làm tăng rủi ro pháp lý và chi phí giao dịch, cản trở dòng vốn đầu tư.

6.2. Kiến nghị bổ sung

Thứ nhất, bổ sung quy định về việc công nhận phán quyết trọng tài nước ngoài và thi hành phán quyết trọng tài trên địa bàn Thành phố. Yêu cầu tòa án tuân thủ Công ước quốc tế trong việc công nhận phán quyết trọng tài nước ngoài. Giao Cục Thi hành án dân sự Thành phố áp dụng quy trình rút gọn đối với việc thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài đã được tòa án Việt Nam công nhận với thời hạn thi hành tối đa 30 ngày kể từ ngày có đơn yêu cầu hợp lệ. Đây là yếu tố quan trọng để thu hút nhà đầu tư nước ngoài khi họ lựa chọn đầu tư vào Thành phố HCM.

Thứ hai, bổ sung quy định về cơ chế đặc thù tăng cường thẩm quyền thi hành án dân sự trên địa bàn Thành phố, với các nội dung cốt lõi:

·       Cho phép Cục Thi hành án dân sự Thành phố được trực tiếp truy cập hệ thống đăng ký tài sản, dữ liệu ngân hàng, chứng khoán, bất động sản và phương tiện giao thông thông qua nền tảng kết nối dữ liệu điện tử để xác minh tài sản người phải thi hành án trong thời gian tối đa 48 giờ (thay vì phải gửi công văn và chờ phản hồi như hiện nay);

·       Cho phép Chấp hành viên được quyền ban hành quyết định phong tỏa tài khoản ngân hàng, tài khoản chứng khoán của người phải thi hành án ngay khi có quyết định thi hành án, mà không cần thêm thủ tục xin ý kiến hoặc chờ xác minh kéo dài;

·       Quy định thời hạn tối đa để hoàn thành từng giai đoạn thi hành án (xác minh tài sản, kê biên, định giá, bán đấu giá) nhằm rút ngắn tổng thời gian thi hành và áp dụng cơ chế đấu giá điện tử bắt buộc đối với tài sản thi hành án trên địa bàn Thành phố;

·       Bổ sung chế tài mạnh hơn đối với hành vi cản trở, chống đối, trốn tránh thi hành án trên địa bàn Thành phố, bao gồm: phạt tiền hàng ngày đối với người phải thi hành án không tự nguyện thi hành, cấm xuất cảnh, hạn chế giao dịch tài sản và công bố công khai danh sách người không chấp hành bản án.

Thứ ba, cho phép Thành phố thí điểm cơ chế xã hội hóa một phần hoạt động thi hành án dân sự, theo đó các tổ chức hành nghề Thừa phát lại được mở rộng thẩm trong việc tổ chức thi hành các bản án, quyết định về dân sự, kinh doanh thương mại có giá trị dưới ngưỡng nhất định (do HĐND Thành phố quy định), nhằm giảm tải cho cơ quan thi hành án nhà nước và tăng tốc độ giải quyết.

6.3. Kiến nghị bổ sung

Thứ nhất, bổ sung một Điều mới (hoặc bổ sung vào Chương VIII về Giám sát, kiểm tra) quy định về cơ chế đặc thù tăng cường thẩm quyền thi hành án dân sự trên địa bàn Thành phố, với các nội dung cốt lõi:

·       Cho phép Cục Thi hành án dân sự Thành phố được trực tiếp truy cập hệ thống đăng ký tài sản, dữ liệu ngân hàng, chứng khoán, bất động sản và phương tiện giao thông thông qua nền tảng kết nối dữ liệu điện tử để xác minh tài sản người phải thi hành án trong thời gian tối đa 48 giờ (thay vì phải gửi công văn và chờ phản hồi như hiện nay);

·       Cho phép Chấp hành viên được quyền ban hành quyết định phong tỏa tài khoản ngân hàng, tài khoản chứng khoán của người phải thi hành án ngay khi có quyết định thi hành án, mà không cần thêm thủ tục xin ý kiến hoặc chờ xác minh kéo dài;

·       Quy định thời hạn tối đa để hoàn thành từng giai đoạn thi hành án (xác minh tài sản, kê biên, định giá, bán đấu giá) nhằm rút ngắn tổng thời gian thi hành và áp dụng cơ chế đấu giá điện tử bắt buộc đối với tài sản thi hành án trên địa bàn Thành phố;

·       Bổ sung chế tài mạnh hơn đối với hành vi cản trở, chống đối, trốn tránh thi hành án trên địa bàn Thành phố, bao gồm: phạt tiền hàng ngày đối với người phải thi hành án không tự nguyện thi hành, cấm xuất cảnh, hạn chế giao dịch tài sản và công bố công khai danh sách người không chấp hành bản án.

Thứ hai, cho phép Thành phố thí điểm cơ chế xã hội hóa một phần hoạt động thi hành án dân sự, theo đó các tổ chức hành nghề Thừa phát lại được mở rộng thẩm quyền trong việc tổ chức thi hành các bản án, quyết định về dân sự, kinh doanh thương mại có giá trị dưới ngưỡng nhất định (do HĐND Thành phố quy định), nhằm giảm tải cho cơ quan thi hành án nhà nước và tăng tốc độ giải quyết.

Thứ ba, bổ sung quy định về thi hành phán quyết trọng tài trên địa bàn Thành phố: giao Cục Thi hành án dân sự Thành phố áp dụng quy trình rút gọn đối với việc thi hành phán quyết trọng tài trong nước và phán quyết trọng tài nước ngoài đã được tòa án công nhận, với thời hạn thi hành tối đa 30 ngày kể từ ngày có đơn yêu cầu hợp lệ. Đây là yếu tố quan trọng để thu hút nhà đầu tư nước ngoài khi họ lựa chọn trọng tài quốc tế để giải quyết tranh chấp.

7. Phát triển giáo dục, đào tạo về công nghệ cao và trí tuệ nhân tạo – Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực

7.1. Thực trạng và vướng mắc

Dự thảo đã có một số quy định về phát triển giáo dục, đào tạo tại Điều 25 và phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo tại Điều 27, bao gồm các cơ chế về quản lý cơ sở giáo dục chất lượng cao, chính sách học bổng, hỗ trợ đào tạo nhân lực trong các ngành trọng điểm. Điều 36 cũng quy định về thu hút, trọng dụng và phát triển nguồn nhân lực, trong đó HĐND Thành phố được quy định chính sách hỗ trợ đầu tư cơ sở vật chất cho các cơ sở giáo dục, đào tạo trọng điểm và hỗ trợ kinh phí đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn.

Tuy nhiên, Dự thảo chưa có quy định đặc thù và đủ mạnh để thúc đẩy phát triển giáo dục, đào tạo chuyên sâu trong lĩnh vực công nghệ cao, trí tuệ nhân tạo (AI), bán dẫn và công nghệ số – những lĩnh vực then chốt quyết định năng lực cạnh tranh của TP.HCM trong kỷ nguyên kinh tế số. Cụ thể: (i) Chưa có cơ chế cho phép Thành phố chủ động xây dựng và triển khai các chương trình đào tạo chuyên biệt về AI, bán dẫn, dữ liệu lớn gắn với nhu cầu thực tế của doanh nghiệp; (ii) Chưa có chính sách ưu đãi đủ mạnh để thu hút các trường đại học, viện nghiên cứu quốc tế hàng đầu về công nghệ cao mở cơ sở hoặc liên kết đào tạo tại TP.HCM; (iii) Thiếu cơ chế kết nối giữa đào tạo và thực hành tại doanh nghiệp công nghệ, đặc biệt là các doanh nghiệp trong lĩnh vực bán dẫn, AI.

7.2. Thông lệ quốc tế và kinh nghiệm nước ngoài

Nhiều quốc gia đã xây dựng các chương trình quốc gia về đào tạo nhân lực công nghệ cao và AI:

·       Singapore – SkillsFuture và AI Apprenticeship Programme: Singapore triển khai chương trình SkillsFuture cấp quốc gia, trong đó Chính phủ tài trợ trực tiếp cho người lao động tham gia các khóa đào tạo về AI, khoa học dữ liệu, an ninh mạng. Ngoài ra, Singapore thành lập AI Singapore (AISG) với ngân sách 150 triệu SGD để đào tạo 10.000 chuyên gia AI trong 5 năm, kết hợp giữa đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp.

·       Hàn Quốc – K-Digital Training và AI Graduate School Programme: Hàn Quốc triển khai chương trình K-Digital Training đào tạo miễn phí cho thanh niên về AI, điện toán đám mây, bán dẫn, đồng thời thành lập các trường cao học chuyên ngành AI (AI Graduate School) tại các đại học trọng điểm với ngân sách Chính phủ, cam kết đào tạo 100.000 chuyên gia AI đến năm 2027.

·       Trung Quốc – National AI Talent Development Plan: Trung Quốc ban hành Kế hoạch phát triển nhân tài AI quốc gia, cho phép các thành phố lớn (Thượng Hải, Thâm Quyến) tự chủ xây dựng chương trình đào tạo AI, liên kết với các tập đoàn công nghệ (Huawei, Alibaba, Tencent) để đào tạo thực hành, và cấp ưu đãi thuế cho doanh nghiệp tham gia đào tạo nhân lực AI.

·       Ấn Độ – FutureSkills PRIME và National Programme on AI: Ấn Độ triển khai chương trình FutureSkills PRIME hợp tác giữa Bộ Điện tử và Công nghệ Thông tin (MeitY) với NASSCOM để đào tạo hàng triệu lao động về AI, IoT, blockchain, điện toán đám mây, với chi phí đào tạo được Chính phủ hỗ trợ 75%.

Bài học chung: Các quốc gia thành công trong phát triển nhân lực công nghệ cao đều có điểm chung là: (i) Chính quyền chủ động xây dựng chương trình đào tạo gắn với nhu cầu thực tế; (ii) Kết nối chặt chẽ giữa nhà trường, viện nghiên cứu và doanh nghiệp; (iii) Tài trợ trực tiếp từ ngân sách cho người học và cơ sở đào tạo; (iv) Thu hút các trường đại học, viện nghiên cứu quốc tế hàng đầu.

7.3. Kiến nghị bổ sung

Thứ nhất, bổ sung vào Điều 25 (hoặc bổ sung một Điều mới) cho phép HĐND Thành phố quy định cơ chế đặc thù về phát triển giáo dục, đào tạo chuyên sâu trong lĩnh vực công nghệ cao, trí tuệ nhân tạo, bán dẫn và công nghệ số, bao gồm: (i) Xây dựng và triển khai các chương trình đào tạo chuyên biệt về AI, khoa học dữ liệu, bán dẫn, an ninh mạng gắn với nhu cầu thực tế của doanh nghiệp trên địa bàn; (ii) Cho phép các cơ sở giáo dục đại học, cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập thuộc Thành phố quản lý được tự chủ xây dựng chương trình đào tạo về công nghệ cao, AI theo chuẩn mực quốc tế mà không cần phê duyệt của Bộ Giáo dục và Đào tạo; (iii) Hỗ trợ kinh phí đào tạo cho người lao động tham gia các khóa đào tạo, đào tạo lại về công nghệ cao, AI từ ngân sách Thành phố.

Thứ hai, bổ sung quy định cho phép Thành phố thu hút các trường đại học, viện nghiên cứu quốc tế hàng đầu về công nghệ cao, AI mở cơ sở đào tạo, liên kết đào tạo hoặc thành lập cơ sở nghiên cứu tại TP.HCM với các ưu đãi vượt trội, bao gồm: miễn tiền thuê đất, hỗ trợ cơ sở hạ tầng, miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong giai đoạn đầu, và thủ tục cấp phép rút gọn.

Thứ ba, bổ sung cơ chế kết nối đào tạo – doanh nghiệp: giao UBND Thành phố xây dựng chương trình hợp tác giữa các cơ sở giáo dục với các doanh nghiệp công nghệ (bao gồm doanh nghiệp FDI) để triển khai mô hình đào tạo kép (dual training), thực tập có lương tại doanh nghiệp, và cam kết tiếp nhận lao động sau đào tạo. Doanh nghiệp tham gia chương trình được hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp đối với chi phí đào tạo.

8. Xóa bỏ hạn chế đầu tư nước ngoài trong một số lĩnh vực ưu tiên

8.1. Thực trạng và vướng mắc

Dự thảo đã ghi nhận nguyên tắc “bảo đảm môi trường đầu tư, kinh doanh bình đẳng, cạnh tranh lành mạnh”. Tuy nhiên, trong lĩnh vực giáo dục và y tế, nhà đầu tư nước ngoài vẫn phải tuân thủ các hạn chế tiếp cận thị trường. Ví dụ: Các trường quốc tế bị hạn chế nhận học sinh Việt Nam học chương trình quốc tế, hạn chế giảng dạy các chương trình học, phải mất nhiều thời gian xin các chấp thuận đầu tư và giáo dục. Các bệnh viện quốc tế không được bán lẻ thuốc tại bệnh viện.

Những rào cản này khiến TP.HCM mất đi lợi thế cạnh tranh so với các thành phố trong khu vực như Singapore, Hồng Kông, Bangkok trong việc thu hút vốn nước ngoài chất lượng cao vào lĩnh vực giáo dục và y tế. Thiếu nguồn vốn đầu tư nước ngoài sẽ khó đạt mục tiêu“xây dựng, phát triển một số cơ sở khám bệnh, chữa bệnh ngang tầm khu vực và quốc tế”.

8.2. Kiến nghị bổ sung

Bổ sung điều khoản quy định các trường có vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn Thành phố HCM được đối xử bình đẳng như các trường trong nước trong lĩnh vực giáo dục và y tế.

9. Tập trung nguồn lực từ doanh nghiệp nhà nước thông qua Quỹ đầu tư phát triển tập trung

9.1. Thực trạng và vướng mắc

Hiện nay, các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) thuộc Thành phố được tự quyết định việc sử dụng lợi nhuận sau thuế và quỹ đầu tư phát triển để tái đầu tư vào hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Điều này dẫn đến tình trạng nguồn lực tài chính từ khu vực DNNN bị phân tán vào nhiều dự án riêng lẻ, không tập trung được cho các chương trình, dự án ưu tiên mang tính chiến lược của Thành phố.

Trong khi đó, UBND Thành phố – với tư cách đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước tại các DNNN – lại không có quyền quyết định tập trung các nguồn lực này để đầu tư vào các chương trình, lĩnh vực, dự án ưu tiên của Thành phố. Cơ chế hiện hành chỉ cho phép thu cổ tức, lợi nhuận được chia về ngân sách theo tỷ lệ vốn góp, mà chưa có công cụ pháp lý để huy động tổng thể nguồn lực từ quỹ đầu tư phát triển của các DNNN vào một đầu mối tập trung phục vụ mục tiêu phát triển chung.

Dự thảo Luật tại Chương VI (Tài chính, ngân sách) đã có một số cơ chế huy động nguồn lực cho Thành phố nhưng chưa đề cập đến việc tập trung nguồn lực từ khu vực DNNN, dẫn đến bỏ lỡ một nguồn vốn tiềm năng đáng kể cho phát triển kinh tế – xã hội  tại Thành phố.

9.2. Thông lệ quốc tế

Indonesia đã thành lập Danantara – Quỹ đầu tư quốc gia (sovereign wealth fund) để tập trung, điều phối và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực từ các doanh nghiệp nhà nước (BUMN), bao gồm các tập đoàn lớn như Pertamina, PLN, Telkom, Bank Mandiri, BRI. Mục tiêu của Danantara là: thay vì để từng DNNN tự tái đầu tư phân tán, Danantara tập trung nguồn lực để đầu tư vào các dự án chiến lược quốc gia, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn nhà nước và thúc đẩy phát triển kinh tế bền vững.

Bài học rút ra: Mô hình Danantara của Indonesia có tính tương đồng cao với đề xuất thành lập Quỹ đầu tư phát triển tập trung của TP.HCM, cho thấy xu hướng quốc tế trong việc tập trung nguồn lực từ khu vực DNNN vào một đầu mối chuyên nghiệp để đầu tư chiến lược, thay vì để phân tán tại từng doanh nghiệp riêng lẻ.

9.3. Kiến nghị bổ sung

Thứ nhất, bổ sung một Điều mới trong Chương VI (Tài chính, ngân sách) quy định về Quỹ đầu tư phát triển tập trung của Thành phố, theo đó: UBND Thành phố được thành lập Quỹ đầu tư phát triển tập trung (sau đây gọi là “Quỹ tập trung”) để tập trung nguồn lực tài chính từ khu vực DNNN phục vụ đầu tư vào các chương trình, lĩnh vực, dự án ưu tiên theo quyết định của HĐND Thành phố. Quỹ tập trung là quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách, có tư cách pháp nhân, hoạt động theo nguyên tắc bảo toàn và phát triển vốn.

Thứ hai, quy định các DNNN do Thành phố nắm giữ 100% vốn điều lệ hoặc giữ cổ phần, vốn góp chi phối có nghĩa vụ chuyển toàn bộ hoặc một phần lợi nhuận sau thuế và quỹ đầu tư phát triển (theo tỷ lệ do HĐND Thành phố quy định) về Quỹ tập trung, thay vì tự quyết định tái đầu tư. HĐND Thành phố quy định tỷ lệ trích chuyển, lộ trình thực hiện và cơ chế giám sát việc chấp hành.

Thứ ba, cho phép Quỹ tập trung được liên doanh, hợp tác với nhà đầu tư trong nước và nước ngoài để cùng thực hiện các dự án thuộc Danh mục ưu tiên đầu tư của Thành phố, bao gồm: góp vốn thành lập doanh nghiệp dự án, cho vay ưu đãi, bảo lãnh tín dụng, đầu tư theo hình thức hợp tác công – tư (PPP) và các hình thức hợp tác đầu tư khác theo quy định của pháp luật. Quỹ tập trung được huy động thêm vốn từ thị trường tài chính thông qua phát hành trái phiếu, chứng chỉ quỹ hoặc các công cụ tài chính khác theo quy định của HĐND Thành phố.

10. Nghĩa vụ bổ sung diện tích cây xanh khi phát triển bất động sản tại khu trung tâm

10.1. Thực trạng và vướng mắc

Khu trung tâm TP.HCM (bao gồm Quận 1, Quận 3 và một phần Quận 4, Bình Thạnh, Phú Nhuận) hiện đang thiếu hụt cây xanh công cộng trầm trọng. Tỷ lệ cây xanh bình quân đầu người tại khu trung tâm chỉ đạt khoảng 0,5-1 m²/người, thấp hơn nhiều so với tiêu chuẩn tối thiểu của WHO (9 m²/người) và các thành phố trong khu vực như Singapore (66 m²/người), Bangkok (6,2 m²/người).

Các dự án bất động sản mới tại khu trung tâm hiện chỉ đáp ứng tỷ lệ cây xanh tối thiểu theo quy chuẩn xây dựng (thường 20-25% diện tích khuôn viên), không góp phần cải thiện tình trạng thiếu hụt cây xanh công cộng chung của khu vực. Đất công viên, cây xanh công cộng tiếp tục bị thu hẹp do áp lực phát triển đô thị, trong khi Dự thảo chưa có cơ chế bắt buộc nhà đầu tư bất động sản đóng góp bổ sung diện tích cây xanh vượt mức tối thiểu cho cộng đồng.

Ngoài ra, từ góc độ môi trường và sức khỏe cộng đồng, việc bổ sung cây xanh tại khu trung tâm mang lại lợi ích thiết thực: cây xanh có khả năng hấp thụ CO2 và bụi mịn PM2.5, giảm nhiệt độ bề mặt từ 2-8°C, giảm hiệu ứng đảo nhiệt đô thị và giảm ô nhiễm không khí. Việc bổ sung cây xanh khu trung tâm không chỉ cải thiện mỹ quan đô thị mà trực tiếp cải thiện sức khỏe người dân, đặc biệt trong bối cảnh ô nhiễm không khí tại TP.HCM đang ngày càng gia tăng do mật độ giao thông và hoạt động xây dựng cao.

10.2 Thông lệ quốc tế và kinh nghiệm nước ngoài

Nhiều thành phố lớn trên thế giới đã áp dụng cơ chế bắt buộc nhà đầu tư bất động sản đóng góp bổ sung không gian xanh khi phát triển dự án tại khu vực trung tâm:

Singapore – LUSH (Landscaping for Urban Spaces and High-rises): Singapore áp dụng chương trình LUSH bắt buộc tất cả các dự án phát triển bất động sản mới phải đạt Landscape Replacement Policy – tức là diện tích cây xanh sau phát triển (bao gồm vườn trên mái, vườn đứng, sân vườn tầng trung gian) phải bằng hoặc lớn hơn diện tích đất trước khi phát triển. Nhà đầu tư được cấp thêm GFA bonus (diện tích sàn bổ sung) nếu vượt mức yêu cầu.

Melbourne (Úc) – Green Factor Tool: Thành phố Melbourne áp dụng công cụ Green Factor đánh giá mức độ đóng góp cây xanh của từng dự án phát triển, trong đó các dự án tại khu trung tâm (Central City) phải đạt điểm Green Factor tối thiểu cao hơn so với các khu vực khác. Điểm Green Factor được tính dựa trên diện tích cây xanh, chất lượng cây xanh và khả năng tiếp cận công cộng.

London (Anh) – Urban Greening Factor (UGF): London áp dụng Urban Greening Factor trong London Plan, yêu cầu tất cả các dự án phát triển lớn tại khu trung tâm phải đạt điểm UGF tối thiểu 0,4 (khu dân cư) hoặc 0,3 (khu thương mại). Nhà đầu tư bắt buộc phải cung cấp không gian xanh bổ sung (bao gồm mái xanh, tường xanh, sân vườn) như điều kiện được cấp phép xây dựng.

Bài học chung: Các thành phố nói trên đều áp dụng cơ chế bắt buộc (không chỉ khuyến khích) nhà đầu tư đóng góp cây xanh vượt mức tối thiểu, gắn với điều kiện cấp phép xây dựng và cơ chế khuyến khích (GFA bonus, ưu đãi thuế) để tạo động lực cho nhà đầu tư.

10.3. Kiến nghị bổ sung

Thứ nhất, bổ sung vào Điều 32 hoặc bổ sung một Điều mới quy định nghĩa vụ bổ sung diện tích cây xanh vượt mức tối thiểu đối với nhà đầu tư khi phát triển dự án bất động sản tại khu trung tâm Thành phố (do UBND Thành phố xác định ranh giới). Nhà đầu tư phải cam kết đảm bảo diện tích cây xanh (bao gồm vườn trên mái, vườn đứng, sân vườn tầng trung gian, không gian xanh công cộng tầng trệt) đạt tỷ lệ cao hơn mức tối thiểu theo quy chuẩn xây dựng hiện hành.

Thứ hai, giao UBND Thành phố quy định cụ thể tỷ lệ diện tích cây xanh bổ sung bắt buộc (vượt mức quy chuẩn tối thiểu) tùy theo loại hình dự án (nhà ở, thương mại, văn phòng, hỗn hợp) và quy mô dự án; đồng thời quy định chế tài đối với nhà đầu tư không thực hiện cam kết, bao gồm: không được nghiệm thu công trình, phạt tiền theo diện tích cây xanh thiếu hụt, hoặc buộc đóng góp vào Quỹ phát triển cây xanh của Thành phố.

Thứ ba, bổ sung cơ chế khuyến khích nhà đầu tư vượt mức yêu cầu: cho phép HĐND Thành phố quy định ưu đãi về hệ số sử dụng đất (GFA bonus), giảm tiền sử dụng đất hoặc ưu đãi thuế đối với nhà đầu tư đạt tỷ lệ cây xanh vượt mức bắt buộc, nhằm tạo động lực kinh tế cho việc phát triển cây xanh đô thị.

III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

Dự thảo Luật Đô thị đặc biệt (Lần 5) đã tạo nền tảng pháp lý quan trọng cho sự phát triển của TP.HCM. Tuy nhiên, để đảm bảo tính khả thi thực tế trong việc thu hút vốn đầu tư tư nhân và nước ngoài, chúng tôi kiến nghị Ban soạn thảo xem xét bổ sung các nội dung nêu trên nhằm:

·       Khơi thông dòng vốn từ VIFC vào nền kinh tế nội địa thông qua cơ chế đặc thù về quản lý ngoại hối và đầu tư;

·       Đảm bảo tính bankability cho dự án PPP bằng cách cho phép áp dụng hợp đồng theo luật nước ngoài và thông lệ quốc tế;

·       Tạo cơ chế linh hoạt để tư nhân tham gia phát triển không gian công cộng ven sông;

·       Luật hóa kênh đối thoại và gỡ vướng cho nhà đầu tư, với sự tham gia của giới luật sư;

·       Mở rộng quyền thuê tư vấn pháp lý độc lập và miễn trừ trách nhiệm cho công chức khi thực hiện theo ý kiến chuyên gia, nhằm khắc phục tình trạng "sợ sai, sợ trách nhiệm".

·       Tăng cường quyền lực và năng lực của cơ quan thi hành án dân sự, đảm bảo việc thi hành bản án, quyết định nhanh gọn, hiệu quả, tạo niềm tin cho nhà đầu tư về khả năng bảo vệ quyền lợi hợp pháp.

·       Phát triển đào tạo chuyên sâu về công nghệ cao, trí tuệ nhân tạo nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế số và thu hút đầu tư công nghệ.

·       Xóa bỏ hạn chế đối với nhà đầu tư nước ngoài trong một số lĩnh vực cần ưu tiên phát triển.

·       Tập trung nguồn lực từ doanh nghiệp nhà nước thông qua Quỹ đầu tư phát triển tập trung, cho phép UBND Thành phố huy động lợi nhuận và quỹ đầu tư phát triển của DNNN vào một đầu mối để đầu tư vào các chương trình, dự án ưu tiên và liên doanh hợp tác với nhà đầu tư trong và ngoài nước.

·       Bổ sung nghĩa vụ bắt buộc về cây xanh vượt mức tối thiểu khi phát triển bất động sản tại khu trung tâm, gắn với chế tài và cơ chế khuyến khích nhằm cải thiện tình trạng thiếu hụt cây xanh công cộng trầm trọng ở khu trung tâm TP.HCM.

Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh cam kết sẵn sàng cử các luật sư có chuyên môn và kinh nghiệm để hỗ trợ Thành phố trong công tác đối thoại, gỡ vướng pháp lý cho doanh nghiệp, cũng như tham gia đóng góp ý kiến hoàn thiện các văn bản hướng dẫn thi hành Luật này sau khi được ban hành.

 

Trên đây là Báo cáo góp ý của Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh đối với Dự thảo Luật Đô thị đặc biệt (Lần 5, ngày 24/05/2026). Kính đề nghị Ban soạn thảo xem xét, tiếp thu.

 


 

Tin tức khác


   Trang sau >>